Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

Tứ quý trong văn hóa việt Nam


Hình tượng tứ quý trong văn hoá Việt Nam 


Tứ quý là một bộ trang trí biểu tượng của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Theo lịch tiết truyền thống, mỗi năm có bốn mùa và mỗi mùa gồm có ba tháng. Tháng thứ nhất gọi là mạnh, tháng thứ hai gọi là trọng, tháng thứ ba gọi là quý. Cứ như vậy lặp đi lặp lại suốt bốn mùa thành: mạnh xuân (tháng giêng), trọng xuân (tháng hai), quý xuân (tháng ba), mạnh hạ (tháng tư)... Tứ quý bao gồm: quý xuân, quý hạ, quý thu, quý đông. Qua bốn quý này là hết thời gian một năm âm lịch. Về sau cách gọi quý theo chu kì ba tháng cũng được dùng trong năm dương lịch. Đặc biệt là ở các cơ quan nhà nước.

Tứ quý còn có những tên gọi khác như tứ thời hay tứ thì, tứ hữu. Tứ quý thể hiện dưới dạng tranh bộ bốn bức gọi là tứ bình. Ngoài ra tứ quý còn được tạo tác thành các bộ đồ bốn chiếc, bộ cây cảnh (bonsai) bốn cây hay đơn giản chỉ là bốn bức mành trang trí hoa - điểu đại diện cho bốn mùa.

Tứ quý được trang trí ở nhiều nơi sang trọng như cung vua, phủ chúa, tư thất của quan lại hay những gia đình giàu sang. Đối với tầng lớp bình dân, tứ quý thường được sử dụng để trang trí dưới dạng một bộ tranh tứ bình gồm bốn bức bằng giấy dó hay giấy bản. Cần phải lưu ý rằng, tứ quý không phải “bốn vật quý” như nhiều người vẫn hiểu lầm(1).

1. Tứ quý trong quan niệm dân gian

Tứ quý trong vai trò là biểu tượng của bốn mùa được hình thành ở những cư dân thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa châu á như Việt Nam và một phần của Trung Hoa lục địa. Về sau, khi đã được nâng lên thành một biểu tượng của nghệ thuật, tứ quý thâm nhập vào nhiều nền văn hoá khác nằm cận kề các khu vực văn hoá thuộc vùng khí hậu nói trên. Cho tới nay, tứ quý là một trong những biểu tượng nghệ thuật được sử dụng nhiều trong văn hoá truyền thống ở các quốc gia thuộc khu vực Đông Bắc á như Nhật Bản, Triều Tiên cùng với Trung Hoa và Việt Nam. Ngoài ra, biểu tượng này còn được các cộng đồng người Hoa và người Việt ở nước ngoài lưu giữ. ở những cộng đồng này, tứ quý được xem như một biểu tượng quan trọng của văn hoá truyền thống.

Bên cạnh những quan niệm bốn mùa được sản sinh từ yếu tố khí hậu của tứ quý, một yếu tố hết sức quan trọng đã góp phần tạo nên cụm biểu tượng trang trí này là quan niệm bộ tứ của người phương Đông đã được hình thành từ hàng nghìn năm qua. Lối tư duy này được người Hán sử dụng nhiều nhất và lâu đời nhất. Đầu tiên phải kể đến là biểu tượng tứ tượng trong hà đồ của người Trung Hoa, với quan niệm lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Thứ đến là tứ thư trong tứ thư, ngũ kinh - những kinh sách quan trọng của người Trung Hoa và cũng là một trong những biểu hiện quan trọng nhất của nền văn hiến Trung Hoa. Thông qua Đạo giáo và Phật giáo, người Trung Hoa hình thành nên Tứ đại danh sơn - nơi tu luyện của các vị thần phật, bao gồm: Ngũ Đài sơn, Phổ Đà sơn, Nga Mi sơn và Cửu Hoa sơn. Ngoài ra còn có tứ đại mĩ nhân, tứ Bồ tát, tứ thiên vương v.v...…

Trong quan niệm của người phương Đông, bộ tứ là biểu hiện của sự đầy đủ, vững chắc, vĩnh cửu, hạnh phúc... như tứ phương, tứ trụ, tứ đức... Thậm chí ở Việt Nam, bộ tứ còn được hình tượng hoá thành cụm biểu tượng tứ bất tử gồm bốn vị thần: Sơn Tinh, Chử Đồng Tử, Mẫu Liễu Hạnh và Thánh Gióng, hoặc tứ chính trấn bao gồm xứ Đông, xứ Nam, xứ Đoài và xứ Bắc. Trong một trò chơi dân gian khá thịnh hành trước đây (bài Tam cúc), bốn con bài cùng loại cũng được gọi là tứ quý hay tứ tử trình làng. Người gặp tứ quý khi chơi bài thường nắm chắc phần thắng và tứ quý được xem như một biểu hiện của sự may mắn. Như vậy, xuất phát từ những biểu tượng của bốn mùa nhưng tứ quý trong quan niệm dân gian không còn là một biểu tượng riêng của thời tiết hay khí hậu nữa mà đã biến thành biểu tượng của nhiều điều tốt lành khác. Đặc biệt, khi đã trở thành một biểu tượng của sự may mắn, tứ quý trở thành một niềm ước vọng của mọi người dân bất kể sang hèn.

Qua đó có thể thấy rằng, người dân sử dụng biểu tượng tứ quý để trang trí trong nhà không có nghĩa là chỉ để làm đẹp hay chỉ để xem “lịch bốn mùa” mà còn là để cầu mong sự may mắn. Đây là một nét rất đặc thù trong văn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá phương Đông nói chung. ở phương Tây, khi cầu nguyện, người ta thường hướng tới một vị thần linh cụ thể với những điều ước cụ thể. Còn ở phương Đông, đặc biệt là ở Việt Nam, người dân có xu hướng tự tìm cho mình những yếu tố may mắn bằng nhiều sự biểu hiện khác nhau như hướng nhà (phong thuỷ), hướng đi, màu sắc, con số... Thậm chí, còn có cả những điều may mắn chỉ do một con nhện đưa lại (!). Chẳng hạn như khi đang dự định một công việc gì quan trọng, nếu nhìn thấy một con nhện đang kéo tơ đi lên thì chắc chắn công việc đó sẽ gặp nhiều thuận lợi.

Với lối tư duy trừu tượng như vậy, việc lấy biểu tượng tứ quý để tạo ra sự may mắn không có gì là lạ. Tuy nhiên, những biểu hiện của biểu tượng này rất khác nhau. Tuỳ theo quan niệm, lối sống của người dân mỗi lúc, mỗi nơi, tứ quý lại được thể hiện bằng những cách thức riêng để làm phù hợp với các yếu tố lịch sử và văn hoá.

2. Tứ quý trong nghệ thuật trang trí của người Việt

Khác với tam đa mang hình tượng con người, tứ linh mang hình tượng của các con vật, tứ quý lúc ban đầu là hình tượng cây. Điều này cũng dễ hiểu vì tứ quý là biểu tượng của bốn mùa mà những biểu hiện rõ rệt nhất của bốn mùa trong tự nhiên là các loài cây. Tuy nhiên, sau khi đã trở nên một dạng biểu trưng trong nghệ thuật, hình tượng tứ quý dần biến đổi thành nhiều dạng biểu hiện khác nhau. Có khi chỉ là bốn loài thảo mộc nhưng cũng có khi được bổ sung thêm bằng những vật, những loài vật hoặc cây cỏ khác. Theo thống kê của chúng tôi, đã có 5 bộ tứ quý được sử dụng một cách phổ biến là:
1. Đào - trúc - cúc - tùng;
2. Mai - trúc - cúc - tùng;
3. Mai - trúc - cúc - lan;
4. Mai - trúc - cúc - sen;
5. Mai - sen - cúc - tùng.

Các bộ cây này mặc dù là trọng tâm của các cụm trang trí nhưng ít khi đứng đơn độc mà thường được đưa thêm vào các hoạ tiết phụ tạo thành những cảnh đẹp và có ý nghĩa. Chẳng hạn, ở bộ tứ quý số 5 nói trên, ngoài các biểu tượng thực vật là mai, sen, cúc, tùng, các nghệ nhân còn đưa vào đây chim, vịt, bướm, hươu/hạc để tạo thành mai điểu, liên áp, cúc điệp, tùng lộc/hạc. Trong khi đó ở bộ tứ quý số 1, đào, trúc, cúc, tùng, lại được các nghệ nhân đưa thêm vào bốn công trình nghệ thuật tiêu biểu của người Việt là Khuê văn các(2), chùa Một Cột, đền Ngọc Sơn và chùa Trấn Quốc.

Một số bộ tứ quý lại được thay thế bằng một biểu tượng ngoại nhập như ở bộ số 4, mai, trúc, cúc, sen, cây mai lại được thay bằng mẫu đơn. Những thay đổi này có thể bắt gặp nhiều ở các bộ tứ bình trong tranh Hàng Trống. Có thể thấy rằng, mai là một loài hoa biểu trưng cho mùa xuân của người Việt nhưng mẫu đơn thì có khá ít người biết đến. Trong khi đó, mẫu đơn lại là một loài hoa “nữ hoàng” của người Trung Hoa. Như vậy, những bộ tứ quý có hoa mẫu đơn chính là một dạng ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Hoa. Vì lí do này mà chúng tôi không xếp bộ tứ quý có hoa mẫu đơn vào những bộ tứ quý mang đặc trưng văn hoá Việt Nam.

Biểu hiện của các loài cây trong bộ tứ quý và ý nghĩa của chúng trong nghệ thuật trang trí của người Việt như sau:

- Đào thường được mô tả bằng một thân cây có gốc to, cành khẳng khiu, điểm xuyết những bông hoa 5 cánh hình tròn và nhiều những búp nhỏ. Cũng có khi đào được mô tả dưới dạng những cành hoa hoặc từng bông hoa. Đào là biểu tượng của sự trường sinh bất lão. Đào cũng được dùng để xua đuổi tà ma. Những ý nghĩa này đều có nguồn gốc từ Trung Hoa.

- Mai cũng tương tự như đào nhưng thường có vóc dáng gầy hơn, mảnh mai hơn, hoa dày nhưng ít nụ hơn. Mai tượng trưng cho sự thanh cao, khí tiết của người quân tử. Các nhà nho xưa gặp lúc đời loạn lạc thường ví mình như cành mai nở trong gió đông để giữ mình thanh sạch. Cũng có khi mai được ví như người con gái chốn đài các, khuê phòng.

- Trúc được mô tả dưới dạng một khóm trúc đứng thẳng hoặc một vài cành trúc buông la đà. Có khi trúc được thể hiện thành “đoản trúc” gồm những thân trúc (hoặc chỉ một thân trúc) không gốc, không ngọn, điểm xuyết bằng một vài chiếc lá hoặc chùm lá mảnh. Trúc tượng trưng cho người quân tử với tính cách ngay thẳng, cương trực.

- Cúc biểu hiện bằng một khóm cây thân thảo với những bông hoa to, nhiều cánh hoặc tạo thành các hoa dây hay những bông cúc cách điệu hình thành nên những mô típ trang trí có tính khái quát. Cũng có khi cúc được biểu hiện bằng một bông hoa to nằm ở vị trí trung tâm của các đồ án trang trí. Cúc là biểu tượng của lòng thuỷ chung nên cúc cũng được ví như người phụ nữ chung thuỷ

- Tùng là loài cây lớn, mạnh mẽ cùng họ lá kim với thông. Cả hai loài này đều chịu được điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Tuy nhiên, tùng luôn giữ được bộ lá xanh quanh năm nên tùng được chọn đưa vào bộ tứ quý. Tùng được mô tả bằng một cây cổ thụ với các tán lá có những chùm lá dày. Tùng tượng trưng cho khí phách của người đàn ông, chịu đựng gian khổ, dám đương đầu với mọi phong ba, bão tố

- Sen là một loài cây rất được mến mộ trong các nền văn hoá ở phương Đông, đặc biệt là những quốc gia theo Phật giáo. Hình hoa sen trong nghệ thuật trang trí của người Việt được tạo tác thành nhiều đồ án trang trí hết sức phong phú. ở bộ tứ quý, hoa sen thường được các nghệ nhân xưa tập trung mô tả những nét đặc trưng như bông sen và cánh sen. Riêng ở các bộ tứ bình, sen được đặc tả như thật. Sen có rất nhiều ý nghĩa tượng trưng. ở mỗi nền văn hoá, hoa sen lại được biết đến với những ý nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung, đó đều là những ý nghĩa cao quý, tốt đẹp. Một trong những ý nghĩa được nhiều người biết đến nhất là sự tinh khiết, thanh tao. Vì vậy, sen thường được gắn với chữ tâm của đức Phật hoặc sự trinh trắng của người con gái.

- Lan là loài hoa đẹp, ở nhiều nước phương Tây, lan được gọi bằng những cái tên ưu ái như nữ hoàng của loài hoa, công chúa ngủ trong rừng... Lan có tới hàng nghìn loài khác nhau nên rất khó có thể chọn ra những mô típ đặc trưng của lan để đưa vào các đồ án trang trí. ở Việt Nam, lan chỉ góp mặt rất ít trong nghệ thuật trang trí, có chăng chỉ là ở các bức tứ bình.

Trong số năm bộ tứ quý đã giới thiệu ở trên, tần suất xuất hiện của các biểu tượng trang trí được thống kê như sau:
- Đào: 1 lần
- Mai: 4 lần
- Trúc: 4 lần
- Cúc: 5 lần
- Tùng: 3 lần
- Sen: 2 lần
- Lan: 1 lần

Có thể nhận thấy các biểu tượng mai, trúc, cúc, tùng xuất hiện nhiều nhất. Đây cũng chính là bốn loài cây đặc trưng cho bốn mùa trong năm của người Việt. Trong đó, mai là biểu tượng của mùa xuân vì hoa mai nở vào mùa xuân. Cúc là biểu tượng của mùa thu vì hoa cúc nở mùa thu(3). Tùng là biểu tượng của mùa đông vì loài cây này có thể chịu đựng được mọi thời tiết khắc nghiệt. Trong mùa đông lạnh giá, lá cây tùng vẫn xanh tươi. Riêng cây trúc được chọn làm biểu tượng của mùa hạ vì lí do gì, cho đến nay vẫn chưa có ai đưa ra lời giải thích một cách đẩy đủ. Theo chúng tôi, rất có thể cây trúc được chọn làm biểu tượng của mùa hạ trong bộ tứ quý của nghệ thuật trang trí của người Việt vì tre, trúc là những loài cho bóng mát về mùa hạ, lại liên quan nhiều đến những vật dụng mùa hè như chiếc nôi, cái chõng... Trong khi mùa hạ cũng có những loài hoa rất đặc trưng như hoa gạo, hoa phượng, nhưng những loài hoa này lại không được chọn.

Sen và lan cũng là hai loài hoa đẹp nhưng lại ít xuất hiện ở các bộ tứ quý. Theo chúng tôi, có thể hoa sen - loài hoa thường nở vào mùa hạ - bị lấn át bởi sự “gần gũi, thân thiện” của trúc với con người nên chúng đành phải nhường ngôi vị này cho trúc. Riêng hoa lan, tuy là một loài hoa đẹp nhưng ít thông dụng nên ít được sử dụng cũng là một điều dễ hiểu.

Sự “bất công” do ít được sử dụng không phải với sen hay lan mà lại chính là hoa đào - một loài hoa nổi tiếng và cũng là một loài hoa rất đặc trưng cho mùa xuân Việt Nam. Nếu so sánh giữa đào và mai - hai loài cây đặc trưng cho mùa xuân - thì lẽ ra đào phải được “ưu ái” hơn vì đào là biểu tượng của mùa xuân ở miền Bắc - cái nôi sinh thành của người Việt và văn hoá Việt. Vậy do đâu mà hoa mai, như chúng ta thấy, lại được sử dụng nhiều hơn trong các đồ án trang trí tứ quý như vậy? Để trả lời câu hỏi này không thể chỉ xét theo một chiều đồng đại mà còn phải tìm hiểu cả theo lịch đại. Có nghĩa là phải xem xét đến lịch sử hình thành và phát triển của hình tượng tứ quý trong văn hoá Việt Nam, vấn đề này sẽ được chúng tôi đề cập đến trong chuyên mục dưới đây.

3. Sự hình thành và phát triển của hình tượng tứ quý trong văn hoá Việt Nam

Là một hình tượng nghệ thuật tiêu biểu trong nền mĩ thuật cổ của người Việt nhưng hình tượng tứ quý trong nghệ thuật tạo hình hầu như không được nhắc đến trong các tư liệu và thư tịch cổ. Trong khi đó, các biểu tượng của hình tượng này lại được nói đến khá nhiều trong thơ văn của Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi - các bậc danh nho thời Lê Sơ. Rất có thể, ý thức hệ nho giáo và sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đã tạo tiền đề cho sự ra đời của hình tượng tứ quý trong nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tạo hình nói riêng. Hình tượng tứ quý trong thơ văn của các bậc danh nho thời Lê Sơ là những biểu hiện cụ thể của hình tượng nghệ thuật mang tính cung đình. Những biểu hiện này có thể đã được cụ thể hoá bằng ngôn ngữ của nghệ thuật tạo hình trong các kiến trúc cung đình và các kiến trúc mang tính cung đình của nhà Lê Sơ. Rất tiếc là những công trình này đã bị đốt sạch.

Một trăm năm tồn tại của nhà nước Lê Sơ (1428 - 1527) chưa đủ để hình tượng tứ quý trong nghệ thuật tạo hình phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Tiếp đến giai đoạn cầm quyền của vương triều Mạc (1527 - 1592), các cuộc nội chiến liên miên với nhiều lần thất thủ kinh đô đã khiến cho nhà Mạc không thể định hình nền mĩ thuật nói chung và các hình tượng nghệ thuật như tứ quý nói riêng. Trong bối cảnh đó, nền nghệ thuật dân gian có cơ hội phục hưng và hình tượng tứ quý với tư duy của các nghệ nhân dân gian đã phát triển một cách tự do và tản mát ở nhiều loại đồ án trang trí kiến trúc, gốm và đồ gia dụng. Chính vì sự phát triển mang tính tự do này mà các biểu tượng của hình tượng tứ quý trong nghệ thuật tạo hình ở các giai đoạn trước Nguyễn thường thiếu tính “quy củ” như các đồ án trang trí được thực hiện dưới thời Nguyễn.

Sau khi tiêu diệt nhà Mạc (1592), nhà Lê lại trung hưng với sự trợ giúp và điều hành của các chúa Trịnh. Nền nghệ thuật cung đình của thời Lê Sơ đến giai đoạn này lại có dịp phục hồi. Từ đây, các hình tượng nghệ thuật như tứ quý, bát bửu... vừa được sử dụng trong cung vua, phủ chúa vừa phát triển rộng ra ngoài dân gian, đặc biệt là ở các ngôi đình làng. Những ngôi đình đẹp và lớn nổi tiếng như đình Đình Bảng, đình Diềm (Bắc Ninh), đình So, đình Yên Sở (Hà Tây)... ít nhiều đều có sự góp mặt của các hình tượng trang trí này. Tuy nhiên, hình tượng tứ quý thông qua tư duy của các nghệ nhân ở giai đoạn này hoặc thiếu hệ thống, hoặc không đủ bộ. Nhìn chung, lối sử dụng hình tượng tứ quý ở giai đoạn này còn tuỳ tiện. Chỉ đến khi hình tượng tứ quý chính thức được các vua Nguyễn sử dụng làm một trong những mô típ trang trí chủ đạo của chốn cung đình triều Nguyễn thì lúc đó tứ quý mới được định hình một cách rõ rệt và phát triển nở rộ thành những bộ tứ quý hoàn thiện như ta thấy ngày nay.

Trở lại vấn đề chúng tôi đã đặt ra ở chuyên mục trước, có thể dễ dàng nhận thấy, mai là loài hoa biểu tượng của mùa xuân ở Huế - kinh đô nhà Nguyễn. Vì vậy, việc sử dụng mai làm biểu tượng mùa xuân của hình tượng tứ quý ở giai đoạn này là một điều tất yếu. Sau một thế kỉ rưỡi cầm quyền (từ 1802 đến 1945) của nhà Nguyễn, biểu tượng mùa xuân của hoa mai đã giữ một vị trí “thống soái” trong các đồ án trang trí tứ quý còn tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Cho đến nay, hình tượng tứ quý trong nghệ thuật trang trí của người Việt đã ảnh hưởng rộng khắp từ chốn cung đình đến nơi thôn dã, từ những công trình kiến trúc khang trang bề thế đến các vật dụng hằng ngày. Với một quá trình tồn tại và phát triển nhiều thế kỉ trong văn hoá Việt Nam, hình tượng tứ quý đã trở thành một phần quan trọng trong vốn di sản văn hoá của người Việt. Đây không chỉ đơn thuần là một thành tố văn hoá hữu hình mà hơn thế nó còn là những hiện vật trong “nhà bảo tàng sống” - nơi chứa đựng các yếu tố văn hoá vô hình có giá trị hết sức to lớn trong nền văn hoá Việt Nam.

Với những biến đổi không ngừng của văn hoá, hình tượng tứ quý giờ đây đang tiếp tục trở thành một loại ngôn ngữ mới trong nghệ thuật tạo hình hiện đại. Những biểu hiện của loại ngôn ngữ này sẽ được chúng tôi đề cập đến trong phần 2 của chuyên khảo này: Sự biến đổi của hình tượng tứ quý trong xã hội hiện đại.

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

Tết Nguyên đán


Đỗ Hoàng Linh


Lễ tết là một bộ phận đời sống văn hóa tinh thần quan trọng của văn hóa truyền thống Việt Nam. Lễ Tết thường tập trung vào thời điểm đầu năm, phù hợp với thời tiết và thời vụ vì thế nó ăn sâu vào ý thức dân tộc. Tuy các nhà nghiên cứu đều cho rằng nghi thức lễ tết Việt Nam đều xuất xứ từ Trung Hoa, nhưng thực chất thì phong cách, tâm hồn và truyền thống đều thể hiện rõ bản sắc Việt Nam.
Ngày lễ tết quan trọng nhất chính là Tết Nguyên đán. Tên gọi của ngày lễ cổ truyền này vốn là cách nói tắt của hai chữ Hán lễ tiết. Nguyên là bắt đầu, Đán là buổi sớm, còn Tết là từ tiết mà ra, nên cụm từ này nghĩa là: bắt đầu năm mới. Thật khó xác định chính xác xem người Việt ta ăn tết từ khi nào, nhưng chắc hẳn do ảnh hưởng của quá trình du nhập văn hóa phương Bắc. Còn sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Bính Ngọ năm thứ 2 (135 trước Công nguyên), Hoài Nam Vương An dâng thư rằng: đất Việt là đất ở ngoài, là dân cao tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ nước mũ mang đai mà trị được. Từ thời tam đại thịnh trị, đất Hồ, đất Việt không theo lịch Trung Quốc…”.

Dân gian vẫn có câu đói quanh năm no ba ngày Tết chắc tại tâm lý no dồn đói góp tích cóp chuẩn bị tất cả tháng trời cho dịp Tết chỉ diễn ra trong ba ngày quan trọng nhất là 30 -1 – 2. Công việc lo Tết bắt đầu thực sự gấp rút từ rằm tháng Chạp âm lịch. Các gia đình đều dọn dẹp, lau chùi, trang hoàng nhà cửa và mua sắm đồ Tết. Ngày 23 tháng Chạp có một nghi lễ quan trọng đầu tiên là tiễ ông Công ông Táo (ta còn gọi là vua bếp, Đông thần). Các gia đình khá giả bày cỗ linh đình, thậm chí còn dâng cả mật ông, bánh nếp để mong Táo quân ngọt giọng đọc báo tâu điều hay lẽ phải với Ngọc Hoàng; nhà nghèo thì cũng cố sắm cho ông Táo mâm lễ gồm mũ, áo, hia, vàng mã và con cá chép sống để trong thạp nước bày lên bàn thờ. Ai cũng tin rằng ông Táo giữ ngọn lửa bếp trong mỗi nhà nên rất quan trọng đối với vận thịnh suy của gia chủ. Sau khi thắp hương cúng xong thì đốt vàng mã và đem cá ra sông phóng sinh. Không khí Tết dồn dập đến rất nhanh, người ta quét dọn, lau rửa bàn thờ, ảnh thờ, nấu nước ngũ vị hương vẩy từ nhà ra ngoài sân để tẩy uế rồi mổ lợn, gói bánh chưng, làm gà, làm ô-mai, mứt tết, tắm giửa tất niên.

Trước giao thừa, ai có món nợ nần đều giục nhau hoặc nhớ ra tự giác đem trả hết, nếu không để sang năm mới bị đòi nợ sẽ giông cả năm. Một thủ tục cần thiết nữa là biếu tết. Đây là việc tùy tâm và tình cảm quan hệ chứ không có quy định bắt buộc nào: ông bà cha mẹ mua cho con trẻ quần áo mới và trang sức đẹp; con rể mua biếu tết bố mẹ vợ rượu, bánh hay con gà sống thiến; học trò đến tạ ơn thày dạy cả năm vuông lụa, ấm trà sen; bạn bè thân tặng nhau bức tranh, cút rượu ngon… Những gia đình nhà nho hoặc quan chức còn có lệ gửi thiếp mừng. Thiếp chúc tết có thể là in hoặc vẽ một vế đối, bài thơ hoặc vài câu ý chúc mừng xã giao. Loại thiếp này chỉ cần đưa đến nhà chứ không cần đưa tận tay cho chủ nhà nên còn gọi là phi thiếp. Sau khi nhận hết các thiếp, từ đầu năm mới, chủ nhà sẽ treo những tấm thiếp này lên các gốc đào, mai, quất hoặc để trước các bình hoa trong phòng khách. Một số vùng nông thôn còn có tục đi thăm mộ tổ tiên và thắp nén nhang mời các cụ về ăn Tết với gia đình.

Theo lệ thường chiều 30 Tết nhà nào cũng phải trồng nêu trước cửa. Đó là một cây tre đốt tận gốc, vẫn để nguyên lá đem trồng trước sân rồi buộc vàng mã, cài khánh (để tỏ dấu hiệu đất đã có chủ, quỷ ma không được đến quấy phá. Những nơi đất chật hẹp thì không trồng được nêu, người ta dùng cành đa, lá dừa gài ở cổng rào, rắc vôi bột, vẽ bàn cờ, cung tên, nỏ hướng ra tứ phía cũng để trấn trừ ma quỷ). Cho đến tận ngày 7 tháng Giêng âm lịch người ta mới hạ nêu và hóa vàng mã, còn gọi là lễ khai hạ. Cỗ cúng gia tiên kéo dài đến giao thừa, còn cơm cúng được làm đều đặn suốt mấy ngày Tết cho đến ngày hóa vàng mới thôi.
Thời khắc quan trọng nhất là Lễ Trừ tịch lúc giao thừa (có thể hiểu nôm na là lễ bàn giao nhiệm vụ trực ban giữa thần năm cũ và năm mới). Nhà nhà bày cỗ ra ngoài trời (sân thượng, cửa nhà, cửa ngõ) để cúng các quan thần tham dự phiên giao ban. Khi tiếng pháp xua tà, mừng thần âm vang thì hương đượm lửa, thơm ngào ngạt. Lễ vật có vàng, hương, trầu, rượu, hoa quả, xôi gà và tiếng cầu khấn rì rầm hòa tan trong âm vang của muôn tiếng pháo rộn rã. Tuy nhiều nơi hiện nay vẫn giữ lễ cúng giao thừa nhưng láng máng ý nghĩa nên thành ra cúng xá tội vong nhân: người ta cho rằng giữa lúc các thánh thần và gia tiên ấm cúng ăn uống trong nhà thì ngoài đường ma đói lang thang vật vờ không biết về đâu, vì muốn cho chúng không quậy phá thì phải cúng bố thí cho chúng no nê. Sau lễ cúng giao thừa còn Lễ cúng Thổ công cũng gồm rượu trà vàng mã hoa quả bánh mứt (nhiều gia đình nộp cả hai lễ làm một để cúng và khấn luôn cho tiện). Khi chủ nhà khấn lễ xong thì các thành viên trong gia đình lần lượt theo ngôi vị trưởng thứ cùng tới chắp tay lễ tạ trước bàn thờ. Tiếp đó mọi người trong gia đình vui vẻ chúc tụng lẫn nhau mọi điều tốt đẹp nhất nhân dịp năm mớivà mở rượu, mừng tuổi bằng xu, tiền mới lấy may (đây chỉ là thủ tục mang ý nghĩa tượng trưng chứ không bắt buộc phải có tiền to, tiền nhiều mới tốt. Việc lì xì này còn tiếp tục cho đến hết lễ hóa vàng đối với họ hàng, bạn bè…).
Kết thúc lễ giao thừa tại gia, mọi người tỏa ra ngoài đường đi hái lộc với quan niệm chính là xuất hành đi lễ các đình, đền, miếu, chùa để cầu phúc, cầu may. Thắp hương khấn vái xong thì hái một cành cây, nhành lá đem về làm lộc cây cắm trước bàn thờ cho đến khi tàn khô. Những ai ra khỏi nhà rồi bước vào nhà đầu tiên sau giao thừa hoặc người khác đến thăm gia đình đầu tiên là người xông nhà. Nhiều gia đình tin rằng người xông nhà có vía tốt sẽ đem lại tài lộc phúc cho gia đình cả năm nên thường chọn người quen, nhờ họ hàng có tuổi tốt, tuổi hợp với chủ nhà đến xông đất. Người nào đang chịu tang gia đình thì không đến chúc tết bất cứ nhà ai trong 3 ngày tết vì gọi là vận áo xám. Nhiều gia đình còn kiêng cả quét nhà trong mấy ngày tết, nhưng đúng ra thì truyền thống chỉ kiêng dọn rác ngày mùng 1 thôi. Trong mấy ngày tết, tuy vui vẻ, chúc tụng, chơi hội thế nào vẫn có tục khai (mở) công việc của mỗi gia đình hoặc cá nhân tùy theo ngành nghề. Ví dụ: mở hàng, khai bút, khai ấn, khai hội… (chọn ngày giờ tốt mở cửa hàng bán mấy món đồ, lấy bút ra viết vài câu đối, đóng triện….). Cũng nhiều nơi mượn cớ này để khai cờ bạc đầu xuân như cờ tướng, tam cúc, tổ tôm…!
Tết cứ thế kéo dài với nhiều hoạt động tưng bừng, náo nhiệt cho đến tận NguyênTiêu (rằm tháng Giêng). Người ta tin rằng ngày rằm đầu năm bao giờ Thần, Phật cũng giáng lâm xuống các đền chùa to nhỏ khắp từ thành thị đến nông thôn, mọi người nghìn nghịt đua nhau dâng lễ vật, cúng bái, xin thẻ cầu may. Một quẻ ngày rằm này có ý nghĩa hướng đạo cho mọi chuyện buôn bán, quan lộc, tình duyên, sức khỏe cho cả năm, vì thế đây cũng là khoảng thời gian làm ăn phát đạt nhất của các thầy bói. Sau rằm thì hương vị Tết chính thức chuyển sang không khí hội hè cổ truyền ở các địa phương…

Văn hóa Tết và Tết Văn Hóa.


GS. Trần Quốc Vượng

Tết là một sinh hoạt văn hoá cổ truyền quan trọng - nếu không nói là quan trọng nhất của người Việt ở đồng bằng. "Năm hết Tết đến", mọi công cuộc làm ăn - sản xuất - trước hết là sản xuất nông nghiệp - đều dần dần giảm thiểu đến mức tối đa - thậm chí ngày trước có khi tạm ngưng hẳn - để đổ dồn cho việc sửa soạn cái Tết, tắm mình trong không khí Tết, hưởng thụ Tết, sinh hoạt Tết rồi thư dãn sau Tết. "Ra Giêng ngày rộng, tháng dài..."
Chúng ta cùng nhau tiếp cận cái Tết cổ truyền dưới góc nhìn văn hoá học và sự biến đổi của Tết trong bối cảnh đời sống mới, văn hoá mới...

Tên gọi và định nghĩa - phân loại
Một cách chặt chẽ, Tết bắt đầu từ ngày mồng Một tháng Giêng đầu năm mới theo lịch cổ truyền mà ta quen gọi là Âm lịch - thật ra là Âm - Dương hợp lịch, vì "Tháng" được tính theo trăng (từ "mồng một lá trai, mồng hai lá lúa - đến ba mươi không trăng), còn "24 tiết" trong năm được định theo mặt trời; ấy là không kể lịch -còn được điều chỉnh theo sao, "nhật - nguyệt - tinh" đều được tham chiếu để làm lịch, đó không phải là lịch thuần Âm hay thuần Dương.

Tết là ngày đầu năm mới, trước hết và quan trọng nhất là "mồng Một", rồi bao hàm cả "3 ngày Tết" (từ mồng Một đến mồng Ba). Nhưng, trong ngôn ngữ cổ truyền của người Việt, bắt đầu từ 23 tháng Chạp năm cũ, người ta gọi là "23 Tết" (ít ai gọi là 23 tháng Chạp), cứ thế kéo dài đến "30 Tết" (30 tháng Chạp). Đêm ấy - hay nửa đầu đêm ấy - được coi là tối tăm nhất trong năm - "tối như đêm Ba Mươi Tết, dầy như đất" - Và "ông Hùm" được bảng giá trị cổ truyền coi là thế lực đáng sợ nhất, tối tăm nhất nên lại được gọi một cách tượng trưng - văn hoá là "ông Ba Mươi". "30 Tết", qua "Giao thừa" lại được gọi là "Mồng Một Tết" rồi "Mồng Hai Tết" v.v cho đến ít nhất là "Mồng Bảy Tết" v.v

Thật ra lễ lạt đầu năm mới được gọi thu gọn là Tết chứ nếu gọi một cách đầy đủ thì dân gian nói là Tết Cả hay gọi theo "tên chữ" (Hán - Việt) là Tết Nguyên Đán. Nguyên là "đầu tiên", Đán là "buổi sớm". Theo nguyên nghĩa, "Nguyên đán" là buổi sớm đầu tiên của ngày đầu tiên của tháng đầu tiên của năm mới. Vậy "Tết Nguyên đán" là "Tết đầu năm mới".

Còn Tết Cả nghĩa là Tết hàng đầu, Tết đứng đầu, Tết to nhất và quan trọng nhất. Với tên gọi ấy, trong tâm thức dân gian đã tiềm ẩn cái ý là sau Tết Cả, có những tết khác, "Tết con", Tết không to bằng, không quan trọng bằng Tết Cả.

Mà quả vậy. Dân ta còn gọi nhiều lễ lạt nữa trong năm là "Tết", thí dụ "Tết mồng ba tháng Ba" (Hàn thực hay "tiệc bánh trôi"), "Tết Đoan Ngọ" (mồng 5 tháng 5), Tết "Trung thu" (Rằm tháng Tám), "Tết cơm mới" (Thường tân, mồng 10 tháng 10 hay mồng 1 tháng 10 tuỳ vùng).

Vậy thì trong lịch lễ lạt cổ truyền, có Tết Cả hay Tết Nguyên đán và những cái Tết khác trong năm, Tết con, Tết nhỏ. Nói theo ngôn ngữ trí tuệ hôm nay có 1 cái Tết (viết hoa) và nhiều cái tết (viết thường).

Vậy Tết theo nghĩa rộng bao hàm những định kỳ lễ lạt trong năm, quanh năm. Tết nhân văn vẫn nương theo thời tiết tự nhiên chuyển vần theo mùa vụ một năm, chẳng hạn tết Đoan Ngọ là khoảng trước sau ngày Hạ chí, tết Cơm mới ở khoảng tiết Đông chí, tết Trung thu ở khoảng tiết Thu phân v.v... Tết Cả hay Tết Nguyên đán là nương theo cái tiết Lập Xuân. Có điều là giữa cái Văn hoá và cái tự nhiên có một độ dung sai nhất định, không hoàn toàn trùng khít với nhau.

Theo văn hoá học và lễ hội học, Tết Nguyên đán cũng có thể được xếp loại vào Hội mùa là một lễ lạt, sinh hoạt văn hoá theo mùa. Vậy Tết Nguyên đán là một Hội lễ nông nghiệp, một nghi thức nông nghiệp.

Cội nguồn
Không gian văn hóa - xã hội của Tết Nguyên đán là Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Cả Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản đã có những thời kỳ dài tuyên bố chính thức bỏ cái Tết này vì đều sinh hoạt theo lịch mới Âu Tây - gọi là Dương lịch. Ở Việt Nam lẻ tẻ có ý kiến bỏ lịch cổ truyền và bỏ Tết nhưng Bác Hồ không đồng ý và nhân dân cũng phản ứng mãnh liệt. Nước ta chưa bao giờ bỏ Tết, dù đã chính thức dùng Dương lịch trong các công sở, cơ quan Nhà nước từ hàng trăm năm nay. Điều đó chứng tỏ với thời gian và văn hiến nghìn năm, cái tết đã hằn sâu trong tâm thức dân gian Việt Nam.

Nhiều nơi ở nước ta, nhất là trong nhân dân đô thị, người ta đã "quên dần tết Hàn Thực, tết Cơm mới, cả tết Đoan Ngọ nữa - Nhưng Tết Nguyên đán đầu Xuân và Tết giữa Thu thì cả đô thị lẫn nông thôn đều không bỏ. Cho dù đó là những nhân tố ngoại sinh thì chúng đã được hội nhập hoàn toàn vào cấu trúc văn hoá Việt Nam.

Ai cũng biết Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam là những vùng "ngoại biên" của văn minh Trung Hoa và chịu ảnh hưởng đậm đà theo những khía cạnh khác nhau, với những nồng độ khác nhau, độ sâu nông khác nhau và những góc khúc xạ khác nhau của văn minh Trung Hoa. Một cái Tết chung cho cả 4 nước trên dễ cho người ta cảm nhận rằng Tết đó vốn có cội nguồn Trung Hoa.

Trong các tộc người của cộng đồng quốc gia Việt Nam, tộc Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa sớm nhất và mạnh nhất và cũng "văn hiến" nhất. Có sự giao thoa văn hoá Việt Hoa - cả cưỡng bức và tự nguyện - qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, bắt đầu từ hàng thế kỷ trước công nguyên, rõ rệt nhất là thời Hán Vũ đế (111 tr CN). Tết trước hết là Tết của người Việt.

Tết như hiện nay bắt đầu khoảng trước Công nguyên hơn 100 năm, từ đời Hán và có cội nguồn đan xen văn hoá Việt - Hoa. Văn minh Trung Hoa bắt nguồn từ bình nguyên hoàng thổ Hoàng Hà, cùng với sự bành trướng của người Hoa xuống phương Nam, đã tích tụ và hội nhập nhiều nhân tố văn hoá phương Nam, miền Việt cổ. Lâu dần, với văn tự và thư tịch Trung Hoa, mọi nhân tố văn hoá Việt cổ ấy đã được xem là của người Hoa và đã được "Hoa hoá". Về sau, người ta gán mọi thành tựu sáng tạo văn hoá cho người Hoa. Sự thực văn minh Trung Hoa là kết quả tích tụ và kết tinh nhiều nhân tố văn hoá của nhiều tộc người - Hoa và phi Hoa - ở vùng Đông Á và Đông Nam Á.

Triết lý Tết và nghi thức Tết cổ truyền
Tết là sự đón mừng Năm Mới, mừng cái Mới và hy vọng vào sự Đổi mới. Nhà Nho nói:
"Nhật tân, nhật tân, hựu nhật tân" (Đại học)
(Mỗi ngày một mới, mỗi ngày một mới, lại mỗi ngày một mới).
Nhưng Nguyên - Đán là ngày đổi mới quan trọng nhất, vì đó là ngày Đầu năm mới.
Định kỳ Tết là theo chu kỳ năm.
Thời gian chu kỳ là thời gian nông nghiệp, thời gian của những nền văn minh thôn dã.
Người ta nương theo chu kỳ của cây cối, cây trồng:
"Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng" (hay Thu hoàng, Đông tàn)
(Mùa Xuân sinh sôi, mùa Hè tăng trưởng, mùa Thu gặt hái, mùa Đông chứa đựng).
Vì vậy Xuân là Sinh mà Xuân cũng có nghĩa là Xanh:
"Cái hoa xuân nở, cái lá xuân xanh
Ai muốn chiết cành hãy đợi mùa xuân"

Tết, dù được định ở trước hay sau ngày Lập Xuân tuỳ từng năm nhưng theo cái nhìn văn hoá - xã hội thì cũng ở sự mở đầu của mùa Xuân.
Triết lý Tết cổ truyền là cái nhìn tâm linh huyền thoại mang tính biểu trưng, với nhiều biểu tượng và pha mầu Đạo giáo. Bẩy ngày trước ngày đầu năm mới, tức 23 tháng Chạp là ngày chết tạm thời của vũ trụ, theo ước lệ. Bẩy (7) là con số thiêng biểu tượng của vũ trụ, chỉ cái Toàn thể, như 3 hồn ở Tim; 7 vía ở Rốn trong toàn thể hồn vía một người đàn ông: như Đức Phật sơ sinh bên Ấn Độ bước đi 7 bước, tức khắp vùng thế giới.

Một ước lệ khác: Hôm ấy ông Công, ông Táo - vị thần tuy 3 mà 1 trong "Tam vị nhất thể" Thổ công - Thổ địa - Thổ kỳ của Đạo giáo được Việt Nam hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà"- vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc - bản nguyên của Nhà từ khi có lửa trong lịch sử loài người, "tách hẳn khỏi giới động vật" - cưỡi Cá Chép bay lên Trời để lại dưới hạ giới một cảnh tượng vô chủ - tâm linh. Ngày 23 Tết được gọi là Tết Ông Công Ông Táo. Người ta làm cỗ cũng tiến "ông Táo chầu Giời", người ta mua cá chép sống rồi thả "phóng sinh" xuống ao hồ sông lạch. Nét biện chứng: Từ trong cái chết đã gieo mầm sự sống. Một nét biện chứng khác: Ngày 23 tháng Chạp, người ta dựng Cây Nêu. Cây nêu mang ý nghĩa phổ quát của Cây Vũ Trụ; còn gọi là cây Mặt Trời. Để xã hội hài hoà và tương thích với vũ trụ thì từ ngày 23 Tết mọi công việc làm ăn đồng áng - buôn bán - cũng tạm dừng; từ đây không ai được vào rừng khai thác, thu lượm cái gì nữa. Xưa các công thư huyện - tỉnh - trấn xứ và triều đình đều đóng cửa nghỉ việc từ hôm đó, sau khi đã làm lễ "hạp ấn" (niêm phong mọi con dấu, ấn triện...). Đến nhà tù - nói chung - cũng không tiếp nhận tù nhân mới. Tóm lại đó là sự dừng nghỉ hoàn toàn, để hợp với cái chết tạm thời của vũ trụ.

Nghi thức quan trọng thứ hai của Tết sau Tết Ông Công là giây phút Giao thừa, điểm thời gian chuyển tiết giữa năm Cũ - năm Mới, được huyền thoại quan niệm như sự giao hoà Âm - Dương, phối ngẫu Đất Trời, để từ trong cái Chết - Cũ nảy sinh sự Sống - Mới... Giao hoà, giao hợp là triết lý Phồn Thực.

Một ông Táo mới - hay cũ mà đổi mới - lại xuống trần thế làm chủ nhà - bếp - đất một năm mới. Người ta bầy một mâm cỗ cúng ở ngoài sân để đón ông, mừng ông. Người ta còn thay những Ông Đầu Rau cũ bằng những Ông mới.

Tín ngưỡng cơ bản của người tiểu nông Việt Nam trồng lúa nước cổ truyền, pha đậm đặc thêm bởi ảnh hưởng Đạo Nho, là sự thờ cúng tổ tiên.

Tháng 12 lịch cổ truyền là tháng Lạp - Chạp, người ta đi "chạp mả", sửa sang, thắp hương trên các mộ phần, khấn khứa mời ông bà ông vải tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu...

Cùng với mâm cỗ cúng Ông Táo cũ 23 tết là cỗ cúng tổ tiên. Cùng với mâm cỗ cúng đón Ông Táo mới phút giao thừa ngoài sân là mâm cỗ cúng Tổ Tiên trên bàn thờ trong nhà, gian giữa.

Và 3 ngày hay 5 ngày đầu năm mới là 3 - 5 ngày thường xuyên sửa cỗ cúng Tổ Tiên hưởng "hương hoa"; còn con cháu thụ lộc trong tinh thần Cộng Cảm (communion) gia đình - thân quyến.

Tình cảm gia đình của người Việt Nam xưa rất nặng:
Tháng Giêng ăn Tết ở nhà
Dù đi làm ăn buôn bán nơi đâu quanh năm suốt tháng, gần ngày Tết người ta cũng tìm mọi cách trở về quê, về nhà để cúng Tổ tiên, sum họp gia đình, cộng cảm cùng thân quyến nội ngoại.
Như trên đã nói lối sống, thế ứng xử Việt 3 ngày Tết cổ truyền là:
Mồng Một thì ở nhà Cha
Mồng Hai nhà Mẹ, mồng Ba nhà Thầy
Đó là đạo đức hiếu lễ, đạo đức "tôn sư" của Nho phong.

Vì Tết là Đổi Mới, là Sức Sống Mới nên gam màu chủ đạo của việc trang trí Tết là màu Đỏ- tượng trưng mầu Máu, màu của Sự Sống và Sự Tái Sinh, theo quan niệm nguyên thuỷ và được bảo lưu tại văn hoá phương Đông: Pháo đỏ, câu đối đỏ, tranh Tết đều có mầu đỏ.
Tết là sự trình diễn những món ăn dân tộc: Giò, Chả, Vây bóng, Thịt mỡ dưa hành.
Đúc kết biểu trưng Tết, không gì cô súc bằng đôi câu đối:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ.
Cây nêu- tràng pháo- bánh trưng xanh.
Như bất cứ lễ hội nào Tết cũng có những thủ tục và những điều kiêng kị. Thủ tục tắm gội tất niên, mặc quần áo mới, nói lời hay ý đẹp, chúc tụng nhau năm mới, hái lộc, xuất hành, khai bút.v.v... Đời Lý Trần có tục lệ rất hay: Trai gái nhà nghèo tự ý ăn ở lấy nhau lúc Giao thừa. Kiêng kị ăn nói thô tục rất thường xảy ra trong dân dã đời thường, kiêng quét nhà đổ rác ngày đầu năm mới (sợ mất lộc), người có tang kiêng đến nhà người khác đầu năm mới v.v...
Sau 3 ngày hay 5 ngày, người ta làm lễ và cỗ cúng "hoá vàng", đốt tiền giấy và tiễn tổ tiên về lại thế giới của người đã khuất. Từ dương cơ người đang sống, tổ tiên trở lại chốn âm phần.
Từ phút Giao thừa, sự sống hồi sinh tới ngày 7 thì được coi là hoàn toàn hồi phục.
Mồng 7 tết là ngày Khai hạ, hạ nêu coi như mừng kết thúc Tết. Người ta lại làm lễ "mở cửa rừng" nơi rừng núi để dân đi lại vào rừng tự do. Người ta lại làm lễ "khai ấn" ở các công thự quan lại và triều đình.
Mọi sinh hoạt đời thường được xem là tiếp tục...

Ngày xưa "ra Giêng ngày rộng tháng dài", cái Tết chủ yếu diễn ra trong phạm vi gia đình, người ta bước vào mùa Hội hè đình đám, mùa sinh hoạt cộng đồng với "gái tháng Hai giai tháng Tám": Hội xoan đất Tổ quan họ Bắc Ninh, hội pháo Đồng Kỵ ngay từ mồng 4 Tết (là sinh hoạt cộng đồng sớm nhất) và các "hội làng" rải rác suốt mấy tháng Xuân; Người ta trẩy hội chùa Hương tháng Hai cho đến hội chùa Dâu tháng Tư và chỉ kết thúc với hội Gióng, hội Đầu mùa mưa.
Sau đó lại là một mùa làm ăn mới, với bao nỗi lo âu và bất trắc...
Tết văn hoá mới
Dương lịch được chính thức áp dụng trong các công sở Đông Dương từ thời thuộc Pháp. Nhưng người dân quê tiểu nông tiểu thương thì vẫn sinh hoạt theo Lịch truyền thống, từ các lễ hội cho đến các phiên chợ quê...

Sau đó, Dương lịch không chỉ dừng ở công sở, nhà máy, trường học - nay đã tăng lên rất nhiều - mà bắt đầu xâm nhập vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp trung ương địa phương, với các giống má mới và các qui định thời vụ mới...

Tâm thức dân gian ở vào thế lưỡng với hai hệ Qui chiếu thời gian. Cho đến nay thì hai hệ ấy vẫn song hành, hệ Dương lịch trở thành hệ chính thống và hệ truyền thống trở thành hệ dân gian.

Hệ văn hoá dân gian với cái Tết và các tết, với các lễ hội truyền thống tới những năm cuối của thập kỷ 50 thì vẫn vậy. Nhưng từ đó thì Lễ hội gần như đứt đoạn và gần như bị cấm đoán ngăn trở một cách không chính thức. Nhiều cái tết con nhạt nhoà dần. Riêng Tết Cả, Tết Nguyên Đán thì vẫn tỏ rõ sức sống mãnh liệt hơn. Trong thời gian trước sau Tết Cả thì tập tục vẫn còn khá mạnh; nhịp điệu làm việc của Quý I hàng năm theo Dương lịch vẫn không thật khẩn trương. Ngày nghỉ đầu năm mới Dương lịch vẫn không ra một sinh hoạt văn hoá dân gian. Mấy năm gần đây nhiều lễ hội đã được khôi phục. Với chính sách cởi mở hơn, sinh hoạt văn hoá dân gian lại có phần hồi sinh và khởi sắc. Có một ý kiến lý thú của V.I. Lê nin: "Cần khôi phục các lễ hội dân gian nhưng cũng cần giải thiêng chúng đi". Cuộc sống là mênh mông. Cuộc sống sẽ có lời giải đáp về Tết nhất và lễ hội dân gian...

Nguồn: www.chungta.com